в

МПК (максимальное потребление кислорода) : Так ли важен этот фундаментальный показатель?

[Всего голосов: 4 Средний: 4.8/5]

Hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng IPC (tiêu thụ tối đa đất) là một trong những chỉ số cơ bản trong các môn thể thao độ bền, giúp xác định khả năng tiềm năng của vận động viên.

Однако есть и альтернативные ученые, которые утверждают, что МПК — это только цифра, полученная в тесте. Они придерживаются мнения, что основным определяющим фактором в видах спорта на выносливость является мозг человека (центральный фактор), который способен отодвигать (или приближать) момент наступления утомления и как следствие поддерживать (или снижать) высокую работоспособность.

Тим Ноукс — южноафриканский ученый и врач, является одним из них. Các lý thuyết gây tranh cãi của ông được biết đến vì bất chấp các tuyên bố truyền thống về các chủ đề khác nhau, từ y học thể thao đến cơ chế sinh học và dinh dưỡng. Например, он продвигает диету с высоким содержанием жиров и низким содержанием углеводов для всего населения. Но, пожалуй, самая интересная его тема — это факторы, которые определяют и влияют на утомление спортсменов в процессе тренировок и соревнований.

Тим Ноукс утверждает в своей Теории Центрального Управления, что мозг спортсмена является основным регулятором процессов утомления, что мозг спортсмена «как бы защищает организм», чтобы атлет «не умер» в процессе упражнений.

Nghe có vẻ kỳ lạ và gây tranh cãi, đặc biệt là trong ánh sáng của kiến ​​thức được thiết lập rằng năng lực làm việc của chúng tôi bị giới hạn bởi khả năng của cơ thể và hệ thống cơ bắp tiêu thụ oxy, đó là, giá trị của MIC.

Tuy nhiên.

Trong một thời gian dài người ta tin rằng IPC là chỉ số chính xác định hiệu suất (kết quả) của vận động viên. Càng cao thì vận động viên càng chạy nhanh. Người ta thường tin rằng ở tốc độ chạy ở cấp độ của IPC hoặc gần với nó, sau khi một vận động viên trong khi bắt đầu chậm lại do sự chuyển đổi sang chế độ kỵ khí hoạt động. Đó là, các cơ bắp không có đủ oxy để duy trì cường độ này.

Тим Ноукс говорит, что если бы главным ограничивающим фактором работоспособности был недостаток кислорода, то первым органом, который бы подвергся опасности было бы сердце, а не мышцы ног и рук. Атлеты бы стали испытывать сильную боль в груди, похожую по ощущениям на сердечный приступ. Это происходит у больных людей, когда сердечная мышца действительно начинает испытывать проблемы с доставкой кислорода, то есть начинает работать в анаэробном режиме. Мы знаем, что во время физических упражнений мы можем чувствовать себя ужасно, но не каждая тренировка или соревнование заканчивается сердечным приступом, угрожающим жизни атлета.

Hơn nữa, anh ấy nói (và chúng tôi cũng biết điều đó) không có mối quan hệ trực tiếp giữa IPC và tốc độ chạy. Ví dụ: Derek Clayton (người thiết lập kỷ lục thế giới trong marathon trong năm 1969) có giá trị IPC chỉ là 69,7 ml / phút / kg. Đồng thời, đối thủ cạnh tranh của ông Craig Virgin (kết quả trong cuộc đua marathon thấp hơn) có MIC là 81,1 ml / phút / kg. Và có rất nhiều ví dụ như vậy, rằng trong chạy, rằng trong các cuộc đua trượt tuyết, đó là trong ba môn phối hợp. Những người có IPC cao hơn đáng kể sẽ thua các vận động viên với tỷ lệ thấp hơn. Họ có thể không chỉ nhận ra tiềm năng hiếu khí của họ? Hay cái gì khác? Rất có thể, ở đây đóng một vai trò quan trọng của ANSP (ngưỡng chuyển hóa kỵ khí). Và nhiệm vụ đào tạo thể thao là tối đa hóa PANO của nó và đưa nó càng gần mức IPC càng tốt.

Тим Ноукс делает предположение, что есть ещё какой-то серьёзный фактор, который начинает влиять на скорость передвижения ещё за долго до выхода на скорости, при которых наступает нехватка кислорода. Он считает, что в мозгу атлета срабатывает своеобразный «тормоз-ограничитель», который не даёт атлету «загнать» свой организм.

Он считает, что мозг «в целях самосохранения» организма атлетов вызывает чувство утомления в мышцах. Мозг снижает нервную импульсацию мышц с целью предотвращения состояния крайней нехватки кислорода. Он считает, để duy trì tốc độ cao và ngăn ngừa mệt mỏi, người ta phải đào tạo bộ não không ít hơn hệ thống cơ bắp.

А ведь в этом что-то есть. Не редко мы видим, что на финише первыми (среди равных) бывают те атлеты, кто может себя перебороть и довести себя до «обморочного» состояния, то есть заставить себя перейти тот ограничительный барьер, который отделяет организм он «разрушения». Và những khoảnh khắc này quyết định kết quả của cuộc đấu tranh cho vàng.

Также Тим Ноукс считает, rằng bộ não con người (hệ thống thần kinh trung ương) có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế và hiệu quả của các chuyển động. Điều này cho phép bạn chạy nhanh hơn ngay cả ở các giá trị IPC thấp hơn. Do đó, ông kết luận rằng IPC không thực sự là một chỉ số hữu ích (cơ bản) trong các môn thể thao vì sự bền bỉ.

Điều thú vị là, Lý thuyết Quản trị Trung tâm Tim Noakes này không có nhiều nhà phê bình, bởi vì thật khó để bác bỏ những phát biểu của ông. Ví dụ, trong Tạp chí Sinh lý học Anh, một nhóm các nhà phê bình cho rằng lý thuyết Noakes này không thể giải thích tất cả các bài tập thể chất, đặc biệt, tất cả các chuyển động bùng nổ. Đáp lại, Knowks nói rằng trong các chuyển động bùng nổ, một yếu tố hạn chế được thêm vào dưới dạng độ đàn hồi và sức mạnh của dây chằng và dây chằng.

Đối với một số lý do, gần đây có rất ít nghiên cứu xác nhận tầm quan trọng tối đa, cơ bản của chỉ số như IPC (tiêu thụ oxy tối đa).

Практически не возможно найти исследования, которые опровергают утверждения Тима Ноукса, что МПК — это только лучший показатель в тесте, и ничего более.

Kết quả được xác định bởi một số lượng lớn các yếu tố, bao gồm cả yếu tố trung tâm.

Нужно развивать свои сильные стороны, но также подтягивать слабые.

Nguồn thông tin: C.Foster (2017)

tác giả Nhóm Triskirun

Cộng đồng các chuyên gia, vận động viên và người hâm mộ của môn phối hợp, trượt tuyết và chạy bộ.

Комментарии (1)

Trả lời

Thêm một lời nhận xét

Быстрые роллеры: что выбрать?

Hai tập bài tập sức mạnh hiệu quả cho người chạy bộ và không chỉ